Theo sử liệ̣u từ nhiều nguồn khác nhau, được ghi chép từ thời nhà Tần th̀́ng nhất lục địa Trung Hoa, thì danh từ Nam Việt bao gồm nhiều cương thổ của nhều nước ở miền Nam Trung Hoa ngày xưa, gồm Sở, Ngô và Việt, trong đó nổi bậc là các dân tộc Mân Việt, Âu Việt và Lạc Việt, ngày xưa tập trung sống ở các tỉnh Quảng Đông, Quàng Tây và miền Bắc Việt Nam ngày nay. Sau nhiều biến cố quân sự và chánh trị, các vùng này đã thay đổi từ vùng tự trị dưới thời Triệu Đà thành các vùng do nhà Hán cai trị. Chỉ riêng vùng do dân tộc Lạc Việt định cư ở miền Bắc Việt, cuối cùng dânh được độc lập từ tay nhà Hán, vào khoàng thế kỷ thứ mười sau Công Nguyên. Thay vì giữ lại trên nước là Nam Việt, thì các vua Việt phải đặt tên nước là Việt Nam theo lệnh của các triều đại bên Trung Hoa trong phong cách bang giao giữa đế quốc và chư hầu.
Danh từ Việt trong Việt Nam và Nam Việt đều viết giống nhau bằng chữ Hán, chỉ̀ riêng ̀trong tiếng Quảng Đông, thì cách viết chữ Việt khác với chữ Việt trong tiếng Quốc Ngữ. Cả hai đều từ Việt phát âm giống nhau. Ngày nay, nhiều cư dân gốc Việt ở các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, hay Phúc Kiến, vẫn tự nhận mình là người Việt hơn là người Hán, đặc biệt ở những nơi tương đối bị khá cô lập vầ địa lý, một số vùng vẫn còn giữ phong tục tập quán Việt như xưa.
Nam Việt – Wikipedia tiếng Việt
Các câu thơ sau đây của Đức Thầy cho thấy ngài dùng chữ Nam Việt ở đây là chỉ nước Việt Nam chứ không phải là Nam Việt ngày xưa:
“Nước Nam Việt nhằm cõi Trung Ương,
Sau sẽ có Phật Tiên tại thế”.
Hoặc là:
“Luôn từ ngày Tăng Sĩ xa nhà,
Đều uất kết tâu qua cùng Thượng Đế.
Ngày vâng chỉ đáo lai trần thế,
Cõi Trung Ương nhằm đất nước Việt Nam.”
CGSGTVGL