Năm năm trường xa cách, cái chánh sách áp bức Tôn giáo gắt gao của người Pháp làm cho Tôi không được gần gũi các người hầu giải bày tường tận Tôn Chỉ Hành Đạo của Tôi.
Ấy không phải vì Tôi cố ý muốn xa lánh các người. Song chẳng qua vì sự bắt buộc của kẻ cường quyền, nên Tôi và các người không được trực tiếp cùng nhau. Tuy nhiên, cũng có lắm thiện nam tín nữ rất trung thành, một lòng gìn Đạo. Nhưng gần đây, có vài kẻ hiểu lầm, hành động một vài điều không hợp với tinh thần đạo đức, trái chủ nghĩa từ bi bác ái và sự cao thượng của giáo pháp nhà Phật. Thế nên, điều ấy làm cho quyển sách nhỏ nầy ra đời.
Vậy từ nay trở đi, Tôi ước mong rằng với vài điều sơ lược kể ra sau đây, toàn thể thiện nam tín nữ trong Đạo sẽ dùng trí tuệ mình, suy gẫm gìn giữ ăn ở theo quy tắc đã định, đặng tránh những việc đáng tiếc xảy ra, hầu giữ tròn danh giá của Đạo Phật.
Như thế, chẳng phụ công ơn của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni đã khai sáng Đạo Phật và đã dìu dắt quần sanh tìm đường giải thoát.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
HÒA HẢO
Đây là lời Khải Ngôn Quyển Sáu Sám Giảng của Đức Thầy trong loạt bài Sám Giảng vào tháng Năm năm 1945 ở Sài Gòn
Đây là quyển thứ sáu mà Đức Thầy đã viết hồi Tháng 5 dl 1945 tại Sàigòn.
Đạo Phật từ xưa tới nay luôn luôn phân làm hai hạng người:
1/- Hạng xuất gia.
2/- Hạng tại gia.
HẠNG XUẤT GIA: Gồm có các nhà sư hay những ni-cô đã hoàn-toàn ly-khai với gia-đình, quê hương, bè-bạn, dựa thân vào cửa Thiền hoặc núi non am cốc, hàng ngày chỉ chuyên lo kinh-kệ, săn-sóc cảnh dà-lam, trau luyện đức lành, dồi mài trí-tuệ hầu giảng giải cho bá-tánh thập phương nghe để quay đầu hướng thiện qui-y Phật pháp, không còn thiết đến việc đời. Gia-đình nhà cửa của nhà sư là cả thế gian, thân quyến nhà sư là khắp cả nhân loại đại đồng. Đó là hạng người dốc tu cho mau thành Phật quả thoát kiếp luân-hồi.
HẠNG TẠI GIA: Gồm tất cả đại chúng, tất cả thiện-nam tín-nữ chưa đủ những điều-kiện xuất-gia, vì cảm thấy mình còn nặng nợ với non sông tổ quốc, với gia-đình, với đồng-bào xã-hội, nên chưa thể làm như các nhà sư hay ni-cô đặng. Tuy vậy họ cũng sẵn-sàng hoan-nghinh ca-tụng lý-tưởng từ-bi bác-ái đại-đồng của nhà Phật và luật Nhân-quả do Phật thuyết ra. Thế nên ở tại nhà, họ phượng thờ Đức Phật, phát nguyện qui-y, giữ gìn ít điều giới-luật, hằng coi kinh sách, sửa tánh, răn lòng, ủng-hộ các sư. Như thế họ cũng lần lần lên con đường giải-thoát.
Đây là hạng người “Học Phật Tu Nhân”.
Bàn xét như trên, thấy rằng toàn-thể trong Đạo chúng ta thuộc hạng tại tư gia cư-sĩ, học Phật tu Nhân vậy.
Sách xưa có câu: “Thiên kinh vạn điển, hiếu nghĩa vi tiên” (muôn vạn quyển kinh của Phật, Thánh Tiên đều dạy sự hiếu-nghĩa làm đầu).
Hôm nay đã qui-y đầu Phật, tu-niệm tại-gia, ta hãy cố-gắng vưng lời Thầy, Tổ đã dạy, lo tròn câu hiếu-nghĩa.
Đức Phật Thầy Tây An thuở xưa thường khuyến khích các môn nhơn đệ tử rằng: Muốn làm xong hiếu nghĩa có bốn điều ân ta cần phải hy sinh gắng gổ mới mong làm trọn:
1 Ân Tổ Tiên cha mẹ,
2 Ân Đất Nước,
3 Ân Tam Bảo,
4 Ân Đồng Bào và Nhơn Loại
(với kẻ xuất gia thì ân đàn na thí chủ).
Ta sanh ra cõi đời được có hình hài để hoạt động từ thuở bé cho đến lúc trưởng thành, đủ trí khôn ngoan, trong khoảng bao nhiêu năm trường ấy, cha mẹ ta chịu biết bao khổ nhọc; nhưng sanh ra cha mẹ là nhờ có tổ tiên, nên khi biết ơn cha mẹ, cũng có bổn phận biết ơn tổ tiên nữa.
Muốn đền ơn cha mẹ, lúc cha mẹ còn sanh tiền, có dạy ta điều hay lẽ phải ta rán chăm chỉ nghe lời, chớ nên xao lãng làm phiền lòng cha mẹ. Nếu cha mẹ có làm điều gì lầm lẫn trái với nhân đạo, ta rán hết sức tìm cách khuyên lơn ngăn cản. Chẳng thế, ta cần phải lo nuôi dưỡng báo đền, lo cho cha mẹ khỏi đói rách, khỏi bệnh hoạn ốm đau, gây sự hòa hảo trong huynh đệ, tạo hạnh phúc cho gia đình, cho cha mẹ vui lòng thỏa mãn. Rán cầu cho cha mẹ được hưởng điều phước thọ. Lúc cha mẹ quá vãng, hãy tu cầu cho linh hồn được siêu thăng nơi miền Phật cảnh, thoát đọa trầm luân.
Còn đền ơn tổ tiên, đừng làm điều gì tồi tệ, điếm nhục tông môn, nếu tổ tiên có làm điều gì sai lầm, gieo họa đau thương lại cho con cháu, ta phải quyết chí tu cầu và hy sinh đời ta làm điều đạo nghĩa, rửa nhục tổ đường.
Sanh ra, ta phải nhờ Tổ tiên, cha mẹ, sống ta cũng phải nhờ đất nước, quê hương. Hưởng những tấc đất, ăn những ngọn rau, muốn cho sự sống được dễ dàng, giống nòi được truyền thụ, ta cảm thấy bổn phận phải bảo vệ đất nước khi bị kẻ xâm lăng giày đạp. Rán nâng đỡ xứ sở quê hương lúc nghiêng nghèo, và làm cho được trở nên cường thạnh. Rán cứu cấp nước nhà khi bị kẻ ngoài thống trị. Bờ cõi vững lặng thân ta mới yên, quốc gia mạnh giàu mình ta mới ấm.
Hãy tùy tài tùy sức, nỗ lực hy sinh cho xứ sở. Thảng như không đủ tài lực đảm đương việc lớn, chưa gặp thời cơ giúp đỡ quê hương, ta phải rán tránh đừng làm việc gì sơ xuất đến đỗi làm cho nước nhà đau khổ, và đừng giúp sức cho kẻ ngoại địch gây sự tổn hại đến đất nước. Đó là ta đền ơn cho đất nước vậy.
Tam Bảo là gì? Tức Phật, Pháp, Tăng.
Con người nhờ tổ tiên cha mẹ sanh ra nuôi dưỡng, nhờ đất nước tạo kiếp sống cho mình. Ấy về phương diện vật chất.
Về phương diện tinh thần, con người cần nhờ đến sự giúp đỡ của Phật, Pháp, Tăng khai mở trí óc cho sáng suốt. Phật là đấng toàn thiện, toàn mỹ, bác ái vô cùng, quyết cứu vớt sanh linh ra khỏi trầm luân khổ hải. Thế nên Ngài mới truyền lại giáo pháp, tức là những lời chỉ dạy cho các chư tăng, đặng đem nền Đạo cả của Ngài ban bố khắp trần thế. Các chư tăng chẳng ai lạ hơn những đại đệ tử của Đức Phật vậy. Bởi vậy, Đức Phật luôn luôn chỉ dẫn và cứu vớt quần sanh thoát miền mê khổ, nên ta hãy kính trọng Phật, hãy tin tưởng và tín nhiệm vào sự nghiệp cứu đời của Ngài, làm theo những điều chỉ dạy do các chư tăng cho biết. Tổ tiên ta đã hiểu rõ sự nhiệm mầu, lòng quảng ái của Phật đối với chúng sanh, để kính trọng sùng bái Ngài, để hành động đúng theo khuôn khổ Ngài đã dạy và đã vun trồng bồi đắp cho nền Đạo được phát triển thêm ra, xây dựng một tòa lầu đài Đạo hạnh vô thượng vô song, roi truyền mãi mãi với hậu thế.
Nên bổn phận chúng ta phải noi theo chí đức của tiền nhân hầu làm cho trí tuệ minh mẫn đặng đi đến con đường giải thoát, dẫn dắt giùm những kẻ sa cơ và nhứt là phải tiếp tục khai thông nền Đạo đức đặng cái tinh thần từ bi bác ái được gieo rải khắp nơi nơi trong bá tánh. Như thế, mới chẳng phụ công trình vĩ đại của Đức Phật và của tiền nhân để lại và không đắc tội với kẻ đời sau vậy.
Con người vừa mở mắt chào đời đã thấy mình phải nhờ đến sự giúp đỡ những kẻ xung quanh và cái niên kỷ càng lớn thêm bao nhiêu, sự nhờ nhõi càng tuần tự thêm nhiều chừng nấy.
Ta nhờ hột cơm của họ mới sống, nhờ miếng vải của họ mới ấm thân, nhờ cửa nhà của họ mới tránh cơn phong vũ. Vui sướng: ta đồng hưởng với họ. Hoạn nạn: họ cùng chịu với ta.
Họ và ta cũng một màu da, cũng nói một thứ tiếng. Ta và họ hợp nhau thì thành lại làm một: ấy Quốc gia đó. Họ là ai? Tức những người ta thường gọi bằng đồng bào vậy.
Đồng bào ta và ta cùng chung một chủng tộc, cùng một nòi giống roi truyền, cùng có những trang lịch sử vẻ vang oanh liệt, cùng tương trợ lẫn nhau trong cơn nguy biến, cùng chung phận sự đào tạo một tương lai rực rỡ trong bước tiền đồ của giang san đất nước. Đồng bào ta và ta có một liên quan mật thiết, không thể rời nhau, chẳng thể chia nhau và chẳng khi nào có ta mà không có đồng bào, hay có đồng bào mà không có ta. Thế nên, ta phải rán giúp đỡ họ hầu đáp đền cái ơn mà ta đã thọ trong muôn một.
Chẳng những thế thôi, ngoài đồng bào, ta còn có thế giới người đang cặm cụi cần lao cung cấp những điều nhu cầu cần thiết. Họ là nhân loại, là những người đang sanh sống với chúng ta trên quả địa cầu. Nếu không có nhân loại, thử hỏi dân tộc ta ra như thế nào? Ta có đủ vật liệu để dùng chăng? Ta có thể tự túc một cách đầy đủ chăng?
Nói tóm lại, ta có thể lẻ loi đương đầu với những khi phong vũ nhiệt hàn, với những lúc ốm đau, nguy biến, giữ vững cuộc sống còn nầy chăng? Hẳn không vậy. Thế nên dân tộc ta phải nhờ đến Nhân loại, nghĩa là nhờ đến dân tộc khác và phải biết ơn họ. Hãy nghĩ đến họ cũng như mình nghĩ đến mình và đồng chủng mình (vậy).
Vả lại cái tình từ bi bác ái của Đức Phật mà ta đã nhận thức, rất thâm huyền quảng huợt. Cái tình ấy, nó không bến không bờ, không phân biệt màu da, không phân biệt chủng tộc; nó cũng không luận sang hèn và xóa bỏ hết các từng lớp đẳng cấp xã hội, mà chỉ đặt vào một: Nhân loại Chúng sanh.
Thế nên, ta không có lý do gì chánh đáng để vì mình hay vì đồng bào mình gây ra tai hại cho các dân tộc khác. Trái lại, hãy đặt vào họ một tư tưởng nhân hòa, một tinh thần hỉ xả và hãy tự xem mình có bổn phận giúp đỡ họ trong cơn hoạn nạn.
Đối với những kẻ xuất gia qui y đầu Phật, phụ vào những ân huệ đã thọ như đã nói trên, họ còn phải trực tiếp chịu ân của các đàn na thí chủ, nghĩa là những thiện nam tín nữ có hảo tâm cung cấp những vật dụng cần thiết cho họ. Họ nhờ đến hột cơm, đến miếng vải, đến thuốc men đặng sanh sống. Rốt lại họ phải nhờ đến sự nuôi dưỡng hoàn toàn của những kẻ tốt lòng.
Với quần sanh, họ mang cái ân rất nặng, cho nên họ phải dìu dắt sinh linh đi tầm Chân lý đặng đáp tạ tấm lòng chiếu cố của thiện tín.
Sanh ra ở đời, con người dầu muốn hay dầu không, cũng phải chịu dưới sự chi phối của định luật thiên nhiên. Định luật ấy gồm vào một chữ Đạo, đạo của con người kêu bằng “Đạo Nhân” và nó là một con đường đi trúng thì sống, bước trật tất chết.
Muốn làm tròn Nhân Đạo, phải giữ vẹn tứ ân. Nhưng trước hết hãy tránh Tam nghiệp và chừa Thập ác, cũng như muốn làm giàu phải tránh đừng cho thiếu nợ.
Mỗi người đều có ba nghiệp chướng sau đây:
Ba nghiệp chướng ấy khiến con người phạm mười điều ác kể ra dưới đây:
Thân nghiệp sanh 3 điều ác:
1) Sát sanh
2) Đạo tặc
3) Tà dâm
Khẩu nghiệp sanh 4 điều ác:
1) Lưỡng thiệt
2) Ỷ ngôn
3) Ác khẩu
4) Vọng ngữ
Ý nghiệp sanh 3 điều ác:
1) Tham lam
2) Sân nộ
3) Mê si
Con người mới sanh ra ở đời đều có tánh hiền lành cả. Song đến lúc lớn khôn vì phải sống chung chạ với thế giới người hung tàn bạo ngược, tánh nết liền ô nhiễm những sự xấu xa hèn kém, trở nên độc ác dữ dằn. Loài người giết nhau vì tiền bạc, vì sắc đẹp, vì lợi danh, vì quyền thế, vì thù hềm, vì háo thắng… nghĩa là họ giết nhau vì sự ích lợi của một người, của một nhóm người, của một đẳng cấp xã hội, của một quốc gia; họ muốn tiêu diệt tất cả nhân loại, không một ai có quyền sống sanh cùng họ cả.
Tại trào nội, sự mà vua coi bầy tôi như cỏ rác, bầy tôi sánh vua như thể địch thù đã làm nguyên nhân cho biết bao cuộc tương tàn tương sát. Ngoài lê thứ thì con giết mẹ cha, tớ hại chủ, trò giết thầy, chồng vợ giết nhau, đệ huynh xâu xé. Những cuộc tương tàn rất thường xảy ra trong nhân loại không ngoài các lý do đã kể trên. Đó là người đối với người.
Người đối với thú cầm, sanh vật còn tàn nhẫn gấp mấy nữa: họ giết thú vật vì miếng ăn, vì sự dị đoan mê tín, vì sự vui thích.
Đành rằng mình không thể dứt tuyệt giết các sanh vật (gà, vịt, heo…) để nuôi thân sống; nhưng chẳng khá dựa vào lý “vật dưỡng nhơn” (thú vật sanh ra đặng nuôi con người) mà giết nó một cách quá đáng. Chỉ cần dùng nó vừa đúng theo sự nhu cầu cần thiết của các món thực phẩm mình thôi và không nên hoang phí hy sinh nó, nếu sự hy sinh ấy không ích lợi cho mình lắm. Nhứt là chẳng khá giết các thú vật trong khi tế lễ. Người ta tưởng rằng khi mình phạm tội với Thánh, Thần, Trời Đất có thể sát hại sanh vật cúng tế cầu cho tội quả tiêu trừ. Sự tin tưởng ấy rất sai lầm huyễn hoặc, vì đứng vào bực siêu hình cao cả như chư vị Thánh Thần, có lý nào vì một tình riêng làm sai chạy lẽ công.
Khi gặp tai nạn bất ngờ hay rủi ro đau ốm, con người không chịu thuốc thang, khẩn vái Phật Trời cầu cho tai qua nạn khỏi, lại giết các thú vật tế Thần cúng Thánh, kêu cốt, kêu đồng. Họ không chịu tìm nguyên nhân các sự họa hoạn, không chịu tìm hiểu rằng những tai biến xảy ra đều do căn tiền báo quả hậu, và không chịu ăn năn chừa lỗi, tạo tác phước điền. Trong khi giết các thú vật đặng tế lễ, họ đã phạm thêm một tội ác lúc họ chưa đền bồi các tội ác trước được.
Chẳng những vậy thôi, họ còn giết các thú vật vì sự vui thích của mình; kẻ bắn chim đang bay trên trời, người chặt cá đang lội dưới nước. Họ bắt thú vật làm tấm bia cho họ nhắm trong những khi cao hứng, quên hẳn rằng sanh vật cũng có linh hồn, cũng có thân xác, cũng biết tìm lẽ sống còn như nhân loại vậy.
Thế nên, hãy tha thứ cho chúng, hãy dung dưỡng chúng và nhứt là đối với các gia súc: trâu, bò, ngựa, chó, mèo… chẳng khá sát hại, vì chúng đã giúp ích cho ta trong các việc sanh hoạt hằng ngày.
Tóm lại, không có sự sát sanh vô cớ nào có thể tha thứ được và trong những ngày chay lạt hãy cữ hẳn.
Câu: “Bần cùng sanh đạo-tặc” cần phải là một câu chữa mình của bọn bất lương vô đạo.
Những kẻ này ngày vẩn vơ đầu đường xó chợ, tối kiếm chỗ khoét vách đào tường, không làm muốn có ăn, không lo muốn có mặc.
Lớp người cặn bã của xã hội này, sống ngoài vòng pháp luật, trốn nhủi trốn chui, phá rối sự an ninh của dân chúng, chuyên lo giết người cướp của đoạt giựt tài sản của lương dân, không nghĩ rằng phải tốn bao nhiêu giọt mồ hôi, bao nhiêu dòng nước mắt mới làm ra được.
Họ là giống sâu làm rầu nồi canh, là tội nhân gây ra những tai biến trong những gia đình cần lao kiệm tiết, là nguyên nhân của sự nghèo sự khó, họ phá hoại hạnh phúc của con người. Cơ hàn đói khó, thay vì phải làm lụng như những kẻ khác mưu cuộc sống còn, họ gây cái lỗi này rồi đến cái lỗi khác, phạm tội này rồi tới tội nọ, tạo chẳng biết bao nhiêu chuyện bất lành cho nhân chủng.
Lưới trời tuy thưa nhưng khó lọt, những kẻ ấy dầu họ không bị luật hình của loài người phân xử, song cơ Trời cũng sẽ báo ứng đến những hành vi en tối, nếu họ không chịu ăn năn chừa lỗi, sửa tánh tu thân, bỏ thói vô nghì, lánh điều phi nghĩa.
3. TÀ DÂM:
“Muôn việc lành hiếu thuận đứng đầu, ngàn việc dữ tà dâm đứng trước”. Sách sử thường bảo như thế. Lần giở xem sử sách, thời thấy tội ác ấy lan diễn ra khắp nơi, từ trào nội cho đến thứ dân, từ trong gia đình đến kẻ xa người lạ, nó là mầm gây ra biết bao thảm trạng! Gương của vua Tề với vợ Thôi Tử, An Lộc Sơn với Dương Quý Phi há chẳng còn lưu liên hậu thế.
Giàu ỷ của hiếp dâm kẻ khó, quan ỷ quyền cường bức đám dân hèn. Gian phu, dâm phụ từ xưa đến nay luôn luôn đều có. Muốn tránh sự bại hoại nền luân lý nước nhà, muốn giữ gìn tiếng tăm của gia thế, phải đừng để dục tình lôi cuốn, bắt chước gương xưa trau giồi lòng hiếu trung trinh tiết.
Đứng đầu các tội ác do miệng lưỡi gây ra, ác lưỡng thiệt này đã làm duyên cớ cho những sự hiểu lầm nhau, những sự cãi vã gây gổ sanh oán sanh thù. Sự phải của người thì bớt, sự quấy của người thì thêm, cái lưỡi đã tạo những sự chia rẽ, những cuộc phân tranh, phá tan sự đoàn kết tình thân yêu giữa nhân loại.
Nó cũng là nguồn cội của bao nhiêu bất hòa, hiềm khích.
Để giải trừ những tai vạ ấy, phải giữ cho lời nói mình được thành thật, chánh đáng; được vậy trong hương đảng mới bớt rầy rà, ngoài xã hội không điều xích mích, và mình cũng không còn chịu ác cảm, tránh sự miệt khinh của kẻ khác.
Nói đến tội ác nầy tức là nói đến những vụ chủ ỷ quyền nhiếc xài tôi tớ, quan ỷ thế mắng chưởi dân ngu. Kẻ giàu có thường ỷ tiền bạc xài xỉ người nghèo, kẻ xảo quyệt ỷ sự khôn lanh nói những điều thất thiệt, kẻ học thức ỷ sự khôn ngoan dùng lời nói hạ nhục người dốt nát. Hãy tránh những sự hiếp người như thế ấy, vì những kẻ dưới tay mình cũng có đầu óc, cũng biết nghĩ suy, nhưng họ bạc phước vô phần nên phải chịu lụy mình vậy. Nếu họ có lỗi lầm hãy dạy dỗ họ, dùng những cam ngôn mỹ từ, những lời trang nghiêm êm dịu chỉ bảo, không khá bao biếm mà mang điều tội lỗi.
Những tiếng thề thốt lỗ mãng, chưởi mắng tục tằn làm ra tội này; con chưởi mẹ mắng cha không kể luân thường thảo hiếu; mạnh bạo hăm he đánh giết những kẻ yếu hèn, hiếp đáp xóm chòm cô bác. Mở miệng ra chưởi gió mắng mây, trù rủa gia đình, không kiêng Thần Thánh. Tối ngày kêu réo Phật Trời, mời thỉnh Long Cung, làm cho tội lỗi càng thêm chồng chất.
Hãy bỏ những tiếng tục tằn thô lỗ làm cho đời sống được êm dịu thanh bay hơn. Đối với cha mẹ phải có lễ độ, với gia đình, với bà con cô bác, với xóm chòm quen thuộc, lời nói mình phải đoan trang nghiêm chỉnh. Đối với con cháu trong nhà không nên nói những điều ác đức, phải dùng lời nói dịu dàng hiền hậu dạy dỗ chúng.
Thêm thừa huyễn hoặc, có nói không, không nói có, ác vọng ngữ đã làm nguyên nhân cho những sự bất công của nhân loại. Thương người nào kiếm cách bào chữa giấu giếm sự quấy và thêu thùa sự tốt ra; ghét ai đặt điều nói xấu, che đậy các điều phải của họ.
Khoe khoang tự đắc, xảo trá đa ngôn, những kẻ điêu ngoa làm cho thiên hạ khinh khi miệt thị. Muốn tránh những điều khiến cho tư cách nhân quần phải bị giảm hạ, hãy tập tánh nói năng chân chánh, bỏ lối láo xược trớ trêu. Chẳng nên tráo chác với người, bỏ tiếng xảo ngôn và phải dùng lời chơn chất.
Tánh tham lam đã làm cho loài người phải chịu bao nhiêu thảm khổ: chiến tranh, cướp bóc, giết người… tham danh, tham lợi, tham sắc, tham tài, tham quyền, tham thế… Những sự ấy đã xô đẩy con người vào chẳng biết bao nhiêu cuộc chiến đấu ác liệt, gây nên những thảm họa tầy trời. Những tấn tuồng giặc giã, cướp của sát nhơn, những vụ hối lộ, những vụ tranh thế giành quyền đã làm cho nhân sanh điêu linh trong vòng tai nạn khốc hại.
Cái tham ấy cũng đã làm cho con người đau buồn hận khổ, phải khóc đứng than ngồi, phải liều mình tự sát chỉ vì sự ham muốn không được thực hiện; người ta quyên sinh vì tình yêu, vì lợi quyền, vì thất trận… Những cuộc cấu xé lẫn nhau, những vụ nồi da xáo thịt, những tương sát tương tàn, những điều hung hăng bạo ác cũng do sự tham lam mà ra cả.
Ngày giờ nào loài người diệt được tánh ham muốn của mình, ngày giờ ấy bớt được một phần lớn của sự khổ.
Vả lại, ở đời phải có những lúc thăng trầm chìm nổi, có thì ta xài, không ta nhịn, can gì phải bày mưu tính kế chiếm đoạt của kẻ ngoài. Của là của chung trong thiên hạ; đời ta còn, nó còn; đời ta mất, nó mất; gương Thạch Sùng, Vương Khải há không để lại cho ta một bài học đích đáng lắm ru?
Thế nên, hãy nghĩ đến người cũng như mình nghĩ đến mình, hãy dẹp lòng vị kỷ tham lam, lo vun trồng phước đức, bố thí cho kẻ nghèo hèn, rán công phu sám hối để có thể yên vui nơi miền Cực Lạc, lánh sự giả tạm ở cõi trần nầy.
Tánh nóng nảy thường xúi con người làm những chuyện bất công sái phép, chém giết oán thù nhau. Kẻ thắng kiêu hãnh, người bại hổ ngươi, nên sự hiềm thù càng lan rộng. “Giận mất khôn”, cơn giận làm cho con người cuồng trí, mất sự tự chủ, trở nên dữ dằn bạo tợn, chẳng còn nghĩ đến việc công bình, lẽ phải trái.
Diệt được nó tâm ta được thảnh thơi, trí ta được thong thả. Hãy mở lượng khoan hồng dung tha kẻ lầm lỗi. Hãy nhẫn nhịn và chẳng nên cãi cọ tranh luận hơn thua làm cho nảy sanh ra những điều hiềm khích.
Tội ác nầy do sự thiếu óc phán đoán, thiếu sự nghĩ suy mà ra; vì vậy con người ít hay phân biệt được lẽ phải trái, bo bo giữ thiển kiến sai lầm, chẳng chịu nhìn nhận Chân lý, suốt cả đời ngu muội, chỉ biết mê man theo những vật nhỏ nhen, mau tan, mau rã, chỉ biết tin bướng làm càn, không tìm hiểu con đường giải thoát.
Hãy xóa bỏ những điều mê tín, qui thuận theo tinh thần đạo đức, lánh chốn mê lầm tỉnh cơn mộng huyễn, phá tan màn vô minh che mờ tâm trí, lần bước trên con đường đạo hạnh, đi đến chỗ bất diệt bất sanh.
Trừ xong ba nghiệp chướng, hãy làm theo tám điều chánh, và sau khi diệt được thập ác rồi, tự nhiên mười điều lành hiện ra; như thế ta đã đi thêm được một bước trên con đường Đạo hạnh. Nhưng sự tấn bộ ấy không có nghĩa là đạt được mục đích. Thế nên, cần phải hành luôn Đạo Bát Chánh tiếp theo, vì đó là quyển kinh nhựt tụng của những ai muốn thoát chốn mê đồ, tấn triển trên đường Giải Thoát.
Bát Chánh gồm có :
Chánh: đúng sự thật – Kiến: thấy, xem xét. Chánh kiến: dòm thấy, xem đúng theo sự thật.
Phàm con người thường hay bị bản ngã lôi cuốn, trí mờ ám làm cho sai chạy ít nhiều sự thật. Khi vì thiếu sự sáng suốt, khi vì tư thù, khi vì lợi kỷ, khiến cho con người không biết đường ngay nẻo thẳng nên sự phán đoán không công bình chánh đáng, làm cho kẻ khác chịu oan tình. Vì thế, mục Chánh Kiến dạy ta phải đem hết trí năng truy cứu các sự rắc rối, cẩn thận xem xét, tránh sự lạc lầm trong khi phê đoán bất cứ việc gì, dầu của mình hay của kẻ khác. Sự quan sát cực điểm, cách xét đoán tận tường, tránh cho ta những tà kiến (sự xem xét lầm lạc) sai chạy, khiến ta dẹp bản ngã đã làm cho trí tuệ mịt mờ u ám; giúp cho ta hiểu biết được rõ ràng, minh bạch, cách phán đoán được ngay thẳng, công bình.
Chẳng thế, nó còn giúp cho ta hiểu biết các điều tục lụy trong trần, biết được lẽ nhiệm mầu của tôn giáo, khiến ta xua đuổi các điều tà mị, bỏ các sự say mê, trở về với đạo lý, thoát đọa hồng trần. Nó tránh cho ta tất cả sự giả dối và nhờ thế nên ta khỏi bị lạc lầm trong khi hành đạo.
Sanh ra ở trong trần con người thường hay bị các thị dục cám dỗ: lợi danh, quyền tước, nghĩa vợ tình chồng, v.v.; cái tư tưởng đã rù quến tâm trí mãi mãi quây cuồng vào những sự ấy, không thế nào thoát ly ra được. Ấy về phần tà.
Phần chánh dạy rằng: tâm cần phải bình, tánh cần phải tịnh, giữ tư tưởng cho thanh cao, trí rán tìm cái Chân lý. Chân lý ấy là cái Đạo của mình đối với nhân loại, của mình đối với Trời Phật, của mình đối với mình. Vì thế, hãy đặt tư tưởng mình vào công cuộc tìm phương cứu giúp sanh linh trong vòng trầm luân oan nghiệt. Hãy tin tưởng Phật Trời và cầu nguyện đấng Thiêng liêng ban bố phước lành cho nhân chủng. Hãy tìm con đường giải thoát cho mình bằng cách lạc Đạo an bần, xả thân tu tỉnh.
Đối với kẻ xuất gia đầu Phật, ngoài những lúc tham thiền nhập định, những khi trì tụng kinh hành, những khi đọc kinh viết sách, những lúc công quả cho nhà Thiền, chẳng có làm việc chi có thể tạo thành ác nghiệp cả.
Những kẻ tại gia cư sĩ, trái lại, còn cần phải lo kế sinh nhai, mưu cuộc sống còn; kẻ buôn tảo bán tần, người việc nầy việc nọ, tóm lại cũng tại vì xác thân mà ra cả. Tuy nhiên, dầu đời sống của họ có bị sự sinh nhai chi phối, song cái chi phối ấy khác hẳn với kẻ gian tà đạo tặc, chẳng có làm việc gì xảo trá bất nhân. Trong cuộc mưu cầu cho lẽ sống, họ cũng nguyện bỏ những nghề nghiệp gây tai hại cho con người: nuôi điếm, bán á phiện, buôn rượu, đầu cơ, cho vay cắt cổ, v.v.
Đành rằng những người buôn bán ấy không có ép buộc bạn hàng, song tại có họ làm các nghề nghiệp ấy, con người mới bị hư hỏng, trụy lạc, hoang đàng, trà đình tửu điếm… Họ là đồng lõa mà phạm nhân là kẻ nghiện ngập say sưa.
Thế nên, mục Chánh nghiệp răn cấm chúng ta làm các nghề ấy. Kẻ tại gia cư sĩ cũng chẳng sát hại vô cớ các sanh vật, hoặc không đánh đập chém đâm ai có thể gây ra nhiều điều tội lỗi.
Phái vô thần luận thường cho rằng thân xác tức là con người. Thân còn tức là người còn, thân mất, người mất. Không có Thánh, Thần, Trời, Phật, không có quả báo luân hồi; cũng chẳng có tội, có phước, có vía, có hồn. Đời là thân xác con người, sống là tranh đấu, mạnh được yếu thua. Thế nên, biết bao nhiêu mánh khóe gian hùng, bao nhiêu ngón điêu ngoa xảo trá, bao nhiêu tàn bạo ngược ngang đều được đem ra dùng cả thảy.
Vì vậy, mục Chánh tinh tấn nầy khuyên hãy rán giữ đức tin cho mạnh mẽ. Dầu các thị dục có lớn lao thế mấy, dầu cho có sức lực gì cám dỗ hay bức bách bỏ lòng tín ngưỡng Phật Trời đặng theo việc khác, các sự ấy cũng chẳng thể lôi kéo được. Và ta luôn luôn phải nhớ đến công cuộc cứu vớt quần sanh thoát nơi khổ hải của Đức Thế Tôn, phải nhớ rằng sanh linh đang chìm đắm trong bể hồng trần, rằng ngày giờ nào còn có kẻ trong chúng sanh chịu khổ thì ta cũng phải khổ vì họ vậy, rằng ta có cái bổn phận giác ngộ trần gian bỏ những oan trái luân hồi cay nghiệt.
Muốn thế trước hết phải tìm phương tự giác, nhắm cảnh Niết Bàn tấn tới; quyết chí tu hành đắc thành Đạo quả hầu dắt dìu bá tánh thập phương xa miền tục lụy. Người bỏ hết các sự rầu buồn, các điều tà vạy, dẹp lục căn, lục trần và rán làm cho tinh thần được thêm sáng suốt, rèn luyện các đức tánh cho thiện mỹ: yên tịnh, hỉ lạc, nghiêm trang, quyết gắng công phu, một lòng bước tới Niết Bàn đặng có tế độ chúng sanh thoát khỏi luân hồi quả báo.
Ở đời, người ta hay lấy xác thân mình làm gốc và hay quí trọng săn sóc nó. Ấy cũng do lục căn mà ra: nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ý. Mắt ưa xem sắc đẹp, tai ưa nghe tiếng hay, mũi ưa ngửi hương thơm, lưỡi ưa đồ ngon béo, thân ưa sự sung sướng, ý ưa chức phận cao.
Người ta tìm đủ phương thế bổ dưỡng thân xác mình, làm cho trí tuệ càng ngày càng thêm mờ ám, ngu đần, không còn lo lắng đến sự tiêu diệt.
Thế nên, hãy xa lánh những điều làm tinh thần bị đen tối; bỏ hết đài các xa hoa, thân mình tự chủ để tìm chỗ bất diệt bất sanh; thiền định đặt làm thể, trí tuệ đặt làm mạng, linh hồn nhập Liên hoa, siêu sanh vào cõi Niết Bàn.
Lục căn làm cho con người nhiễm lục trần. Vì muốn nuôi dưỡng xác thân nên mới sanh ra các điều ham hố là nguồn cội các tội lỗi. Trong những tội lỗi ấy cũng có nghiệp chướng của miệng lưỡi:
Hãy tập lời nói mình cho chân chánh, đúng với sự thật; hãy bỏ hết những xảo ngôn tráo chác, những tiếng thô lỗ cộc cằn, phàm những khi bàn luận việc chi, phải nói tỏ tường ngay thẳng. Đối với kẻ dưới bề trên, lời nói phải cho hiền lương đức hạnh và những sự khuyên dạy chỉ bảo kẻ khác làm theo lẽ phải đều có ích lợi cho chúng sanh và đều hạp với tinh thần đạo đức.
Còn cũng tưởng, mất cũng tưởng, có cũng tưởng, không cũng tưởng, thành cũng tưởng, bại cũng tưởng, thương cũng tưởng, ghét cũng tưởng… Thất tình lục dục bắt buộc con người phải phí biết bao nhiêu tâm cơ, bao nhiêu trí não phụng sự nó. Danh lợi, cảm tình, uy quyền, phú quí… được hằng ngày ghi nhớ. Vì thế, con người mãi mãi lăn lộn trong sáu đường không thoát khỏi vòng sanh tử.
Để thoát chỗ luân hồi, bỏ cuộc đời lầm than hoạn họa, hãy rán tưởng niệm phương pháp hành Đạo, bỏ các điều phù phiếm, ghi nhớ công lao Đức Phật đối với quần sanh, bia tạc vào lòng những điều Phật giáo. Phải nhớ rằng xác thân do tứ đại (đất, nước, lửa, khí) tạo thành và sớm muộn gì nó cũng sẽ bị tan rã. Đặng vậy, ta mới bỏ được các sự xúc động, các mối dục tình, tránh điều lụy khổ do nó gây nên.
Con người thường hay có những ý định làm cho mình được sang thêm lên, được giàu thêm lên, được sung sướng thêm lên… nghĩa là những ý định hoàn toàn nhỏ nhen thấp thỏi. Họ không hiểu rằng cuộc đời là giả tạm, nay vầy mai khác, thân thế lạc luân, của cải gia tài như đám phù vân trước gió, nước bọt, mây bèo. Những cái sanh, cái bịnh, cái lão, cái tử được đặt lên cuộc đời của người nầy rồi đến người khác… rồi đến người khác nữa, nghĩa là tất cả nhân loại không thiếu sót một ai. Thế mà, họ vẫn cuống cuồng tâm trí theo bả lợi danh, mùi phú quí, đi theo những vặt vụn, tiểu ti, eo hẹp.
Họ không chịu hiểu rằng ngoài kiếp phù du của trần thế, còn có cái gì không di không dịch, vĩnh viễn trường tồn. Nếu lấy sự thiền định phá tan màn u minh che phủ, thì thấy rằng ở cảnh ấy con người sẽ hết buồn hết khổ, hết quả báo luân hồi.
Và khi ta dùng sự chánh định dẹp bỏ hết các sự phiền não rầu buồn, phá tan các làn sóng thị dục lôi kéo vào những nẻo tà, tâm ta chẳng còn xao động, trí ta tỏ rạng như trăng rằm, một màu sáng suốt, không nhiễm ô cảnh ngoại, dứt tuyệt hết sự phàm trần, lần bước đi đến cõi giải thoát.
Từ trước đến nay, các chùa chiền đã tạo quá nhiều hình tượng. Đành rằng vì tôn kính đấng Từ Bi mới làm ra thờ phượng Ngài, nhưng cũng có kẻ lợi dụng để thủ lợi. Bây giờ, chúng ta không nên tạo thêm nữa. Làm thế chúng ta không có ý hủy báng sự phượng thờ của các chùa chiền. Cách thờ phượng ấy tùy theo điều kiện các sư mà chúng ta cũng có thể sùng ngưỡng đặng. Nhưng riêng về cư sĩ ở nhà không nên tạo thêm nữa; nên thờ đơn giản cho lòng tin tưởng trở lại tâm hồn hơn ở vào sự hào nháng bề ngoài. Từ trước, chúng ta thờ Trần Điều là di tích của Đức Phật Thầy Tây An để lại. Nhưng gần đây, có nhiều kẻ thờ trần điều tự xưng cùng tông phái với chúng ta, làm sái phép, sái với Tôn chỉ của Đức Phật, nên toàn thể trong Đạo đổi lại màu Dà.
Lại nữa, từ trước đến giờ các sư dùng màu dà để biểu hiện cho sự thoát tục của mình, và màu ấy là sự kết hợp của tất cả các màu sắc khác, nên có thể tượng trưng cho sự hòa hiệp của nhân loại, không phân biệt chủng tộc và cá nhân. Vì vậy, chúng ta dùng nó trong chỗ thờ phượng để tiêu biểu cho tinh thần vô thượng của nhà Phật.
Nếu trong nhà chật, nội bàn Thông Thiên với một lư hương không cũng được, bởi vì sự tu hành cốt ở chỗ trau tâm trỉa tánh hơn là do sự lễ bái ở ngoài. Còn người nào có cốt Phật trong nhà để vậy cũng đặng. Hình tượng bằng giấy không nên chừa lại và phải đốt đi. Kẻ nào phải ở chung đậu với người khác không có tu hiền hay không cùng một Đạo với mình hoặc nhà cửa nhỏ hẹp quá, không có chỗ phượng thờ, thì đến giờ cúng kiếng chỉ vái thầm và niệm Phật trong tâm cũng đặng.
Về cách cúng Phật, chỉ nên cúng nước lạnh, bông hoa và nhang thôi.
Nước lạnh tiêu biểu cho sự trong sạch, bông hoa tiêu biểu cho sự tinh khiết, còn nhang, dùng đặng bán mùi uế trược. Ngoài ra, chẳng nên cúng món gì khác cả. Bàn thờ ông bà cúng món chi cũng đặng.
Ngoài sự thờ Phật, tổ tiên, ông bà, cha mẹ và những vị anh hùng của đất nước, không nên thờ vị tà thần nào khác mà mình không rõ căn tích.
Chỉ thờ lạy Đức Phật, tổ tiên, ông bà, cha mẹ lúc còn sống và các vị anh hùng cứu quốc. Với những kẻ khác, nên bỏ hẳn sự lạy lục người sống, cho đến Thầy mình cũng vậy, chỉ xá thôi.
Tất cả các hành động trong Đạo hay ngoài đời, trước khi làm điều gì phải tính toán một cách cẩn thận, đừng làm chuyện ngông cuồng vô ý thức. Một đừng ỷ lại vào kẻ mạnh, hai đừng ỷ lại vào sự cứu vớt của Thần Thánh, ba đừng ỷ lại sự binh vực của Thầy mình. Luôn luôn, lúc nào cũng phải nhớ câu Nhơn Quả của Phật dạy, nếu Nhơn toàn thiện thì Quả cũng sẽ do đó được toàn thiện vậy. Kẻ nào hành động ngông cuồng, không suy xét cẩn thận để đến đỗi thất bại đem đến sự khó khăn, khổ não rồi trách cứ kẻ mạnh sao không cứu mình, Thầy sao không giúp mình, Trời Phật sao không độ mình, thì sự lầm lạc ấy rất đáng thương hại.
Mỗi người hãy nên lấy trí thông minh nhận xét Đạo lý hay lời nói của Thầy mình, chớ đừng lấy đức tin thọ lãnh những lời nói đó trong khi mình chưa hỏi tường tận. Như thế, mình mới có thể tấn hóa trên con đường Đạo đức.
Những điều sơ lược giải thích trên đây, mong rằng toàn thể trong Đạo suy gẫm kỹ càng và thực hiện để bài trừ sự mê tín ngông cuồng của thiểu số người trong Đạo, làm cho tư tưởng Thiện Hòa của Phật Đạo được phát triển mau chóng.
Lúc ông bà cha mẹ từ trần, tục để tang chúng ta vẫn giữ theo cổ lệ; chỉ cần sửa đổi các sự như sau đây:
Bây giờ, chúng ta đã quy y đầu Phật, thì phải do sự thành tâm cầu nguyện, và đem sức khấn vái của anh chị em trong Đạo cầu nguyện cho vong linh người chết được siêu sinh nơi cõi thọ. Chẳng nên rước những ông thầy dưng bông, đốt giấy tiền vàng bạc, xá phướn lầu kho, vì đó là chuyện tốn tiền vô ích, bởi vì người ta nhận định rằng xác thịt là hư hoại, thì trong lúc chết chỉ đem chôn cất cho kín đáo, đừng để hôi thúi có hại cho người sống, như thế là đủ rồi.
Còn hiếu sự do hồi còn sanh tiền và do sự tu hành, sự thành tâm cầu nguyện chớ không phải có tiền rước người khác cầu nguyện mà đạt được hiếu thuận nhơn nghĩa. Chỉ vọng bàn giữa nhà hay giữa trời cầu nguyện, rồi im lặng đi chôn.
Về việc cúng kiếng ông bà cha mẹ, có chi cúng nấy trong những ngày kỷ niệm theo như tục lệ. Còn về việc đãi đằng hương đảng thì tùy ý. Những điều nào xét ra giản tiện, ít lãng phí cứ làm.
Mỗi người đứng trước bàn Phật niệm: “Nam mô Bổn sư THÍCH CA MÂU NI PHẬT” (ba lần) và “Nam mô A DI ĐÀ PHẬT” (ba lần).
Vái: “PHẬT TỔ, PHẬT THẦY, nay mình thành tâm cầu nguyện cho (tên người chết), nhờ ơn Đức Phật từ bi cứu độ vong linh được thoát chốn mê đồ, vãng sanh miền Cực Lạc ! ”
Trong lúc ở nhà hay lúc đưa đám tang gì cũng vậy, nếu có tổ chức sắp hàng, chấp tay niệm:
“Nam mô Tây phương Cực lạc thế giới tam thập lục vạn ức, nhứt thập nhứt vạn cửu thiên ngũ bá đồng danh đồng hiệu đại từ đại bi tiếp dẫn vong linh A DI ĐÀ PHẬT” (nếu người chết là nhà sư thì câu chót đọc: “Tiếp dẫn đạo sư A DI ĐÀ PHẬT”).
NÊN LƯU Ý: Tang gia đừng nên khóc lóc làm trở ngại sự siêu thoát anh linh của người chết.
Bổn phận cha mẹ phải chọn lựa đôi bạn cho con một cách xứng đáng bằng sự quan sát tường tận về đức tánh đôi trai gái. Không nên ép uổng con mình quá đáng vì như thế làm cho khốn khổ nó về sau, nhưng cũng không nên để chúng quá tự do mà sự thiếu kinh nghiệm làm cho đời chúng phải hư hỏng. Nên bỏ tục lệ thách giá đòi tiền và đòi lễ vật.
Thông gia hai bên không nên làm khó cho nhau. Cũng chẳng nên bày ra tiệc lễ linh đình tốn kém nhiều tiền làm cho trở nên nghèo khổ.
Phải cữ tuyệt; nhưng khi có tiệc lễ với người ngoài và không phải nhằm ngày chay lạt, có thể dùng một đôi chút rượu thật nhẹ để đừng có tỏ sự chia rẽ với kẻ ngoại Đạo. Nếu say sưa sẽ phải tội lỗi.
Phải cữ tuyệt; không được hút một điếu nào hết. Những kẻ hút muốn vào Đạo, phải bỏ hút rồi mới được nhìn nhận. Trừ ra những người đau mà thầy thuốc bảo phải dùng một chút ít hợp với các vị thuốc khác mới có thể châm chế đặng.
Phải cữ tuyệt; những kẻ cờ bạc muốn vào Đạo, phải thệ nguyện bỏ cờ bạc rồi mới được nhìn nhận. Về sự nầy, chẳng có cuộc vui nào có thể châm chế đặng.
Tất cả bổn đạo nên cung kính các tăng sư tu hành chân chánh. Nếu các ông ấy có dạy điều chánh lý, phải nghe lời. Đối với những hạng tu hành mà mình biết rõ là dối thế (như mấy ông thầy đám…) hãy tìm cách khuyên can các ông trở lại con đường chân chính của Đạo Phật. Nếu các ông vẫn tiếp tục làm điều tà mị, mình phải bài trừ triệt để và giảng giải cho quần chúng cùng tín đồ nhà Phật hiểu đặng xa lánh họ.
Những ngày vía của các Đức Phật, ngày rằm hay ba mươi, mình muốn đi chùa cũng tốt, đặng lễ Phật, dưng hoa, không có cấm. Nếu chùa nào nghèo, hư, rách, mà mình giúp đỡ được càng tốt (có điều mình không nên mua sắm hình tượng cho nhiều).
Khi đến chùa cũng phải tôn trọng sự thờ phượng trong chùa, không nên hủy báng.
Đối với những người theo tôn giáo khác, không nên động chạm đến cách thức tu hành của họ. Nhứt là không ỷ đông hiếp đáp hoặc nói xấu người ta. Nếu họ có làm dữ với mình thì mình cũng chẳng được phép vì sự dữ của họ mà trả thù, và phải luôn luôn làm lành với họ. Mình phải hoài hoài làm phải với những kẻ ấy dầu họ có làm quấy với mình cũng mặc và phải nhẫn nhịn họ.
Đối với nhân sanh, bao giờ cũng phải hòa hợp với họ và làm cho đôi đàng có thiện cảm với nhau. Phải biết thương xót đến họ và nếu họ cần, phải rán hết sức giúp đỡ họ.
Tất cả bổn đạo nên biết rằng Thầy không có buộc để tóc, vì đó thuộc về phong tục chớ chẳng phải về tôn giáo; nhưng sở dĩ Thầy để tóc là muốn giữ kỷ niệm cái phong tục cổ của Tổ Tiên và tỏ cho thiên hạ biết Thầy không chịu ảnh hưởng cái đời văn minh cặn bã của phương Tây.”
Thấy vậy, nhiều người trong bổn đạo yêu mến Thầy liền bắt chước, vì thế số đông người hiểu lầm rằng để tóc là tu. Thật ra, tu là tu, để tóc là để tóc, và tu không phải là để tóc, để tóc không phải là tu. Nếu để tóc mà không chịu trau tâm sửa tánh cũng chẳng phải là kẻ tu hành. Từ rày trở đi, đã thoát được ách người Pháp và tùy theo phong trào tiến hóa của nước nhà, Thầy cho phép bổn đạo tự do cải cách hầu hòa hợp với lương dân cùng tôn giáo khác.
Sự học hành không làm trở ngại cho đạo đức. Trái lại, nhờ nó mình được biết rõ ràng giáo lý cao siêu của tôn giáo. Nó tránh cho mình những sự lạc lầm, bỏ các điều dị đoan mê tín. Nó làm cho mình dẹp bỏ những điều huyễn hoặc, không bàn bạc những chuyện xa vời, như tiên đoán Thiên cơ chẳng hạn.
Vậy hãy tự mình học hỏi, như học chữ quốc ngữ, và hãy cho con cháu mình vào trường học tập đặng sự hiểu biết của chúng thêm rộng rãi. Vả lại, sự hiểu biết về khoa học không cản trở sự tu hành và nó giúp cho mình nghiên cứu Phật Đạo một cách rành rẽ.
Người trong bổn đạo nam nữ bất luận, phải giữ gìn thân thể cho khỏe mạnh. Như thế, nên luyện tập những môn thể dục nào hợp với sức khỏe nếu mình muốn, bởi vì xác thịt có khỏe mạnh tinh thần mới sáng suốt, như vậy mình mới có thể làm sự đạo nghĩa một cách đắc lực.
Kẻ tu hành ăn uống phải có điều độ. Tránh những món ngon, song nấu toàn đồ độc cho cơ thể ăn vào sanh bịnh. Phải giữ gìn thân thể sạch sẽ và từ nhà cửa cho đến chỗ ăn, chỗ nằm, phải biết trọng vệ sinh. Bỏ những thói quen ăn ở dơ bẩn, vì xác thịt dơ dáy thì tinh thần không thể nào mở mang được, và vì Thần vì Thần Thánh chỉ gần những kẻ trong sạch; nên nếu ai muốn được tiếp độ, phải trong sạch vừa tinh thần lẫn vật chất.
Cách làm ăn phải y như trong mục Bát Chánh đã dạy: Bỏ những sự bất chánh: lường cân, tráo đấu, buôn lậu, đầu cơ, buôn rượu, bán thuốc phiện, v.v. Làm những nghề lương thiện, không có lường gạt ai, bỏ những thói gian xảo.
ĐIỀU KIỆN VÀO ĐẠO
Người nào muốn quy y phải có hai người bổn đạo cũ, có đức hạnh tiến cử và bảo lãnh, đến Ban Trị Sự trong làng cho người làm đầu biết và người làm đầu phải đọc hết thể lệ về sự tu hành cho người quy y nghe, hỏi coi có bằng lòng quy y như lời nguyện dạy và răn cấm trong Đạo chăng. Nếu họ bằng lòng, biểu họ về nhà cho ông bà, cha mẹ biết, hoặc nguyện trước bàn thờ ông bà, tổ tiên rằng: Ngày … tháng … con chịu quy y theo Đạo. Sau đó, người làm đầu (Hội Trưởng) cho cuốn sách nhỏ nầy . Chỗ nào không có Ban Trị Sự, hai người bổn đạo cũ phải dìu dắt người mới, rồi sau sẽ dẫn lên Ban Trị Sự gần đó. Không bắt buộc thề thốt chi hết. Vì người muốn tu do nơi sự phát nguyện của mình thôi. Khi nào mình không muốn giữ Đạo, mình phải cho người tiến cử hay để bôi tên mình ra. Không người nào được phép xưng mình là người trong Đạo mà lại không giữ luật.
Kẻ nào làm trái luật lệ trong sự đạo đức, dầu không xin thôi Đạo hay là chưa bị bôi tên cũng bị trách nhiệm việc làm của họ và bị coi như người ngoại Đạo.
Nên nhớ rằng: Đức Phật sẽ dìu dắt và ủng hộ những kẻ nào làm ăn chơn thật, hiền lành đúng theo giáo lý của Ngài; chớ không bao giờ Ngài lại ủng hộ những kẻ gian tà xảo quyệt, làm các việc hung ác ngông cuồng trái những lời mà Ngài đã chỉ dạy.
Cầm hương xá 3 xá, quì xuống, chắp tay đưa lên trán nguyện :
Cúi kính dưng hương trước Cửu Huyền,
Cầu trên Thất Tổ chứng lòng thiềng.
Nay con tỉnh ngộ quy y Phật,
Chí dốc tu hiền tạo phước duyên.
Cắm hương rồi đứng ngay thẳng, chắp tay vào ngực đọc tiếp :
Cúi đầu lạy tạ Tổ Tông,
Báo ơn sanh dưỡng dày công nhọc nhằn.
Rày con xin giữ Đạo hằng,
Tu cầu Tông Tổ siêu thăng Phật đài.
Nguyện làm cho đẹp mặt mày,
Thoát nơi khổ hải Liên đài được lên.
Mong nhờ Đức Cả bề trên,
Độ con yên ổn vững bền cội tu.
(Lạy bốn lạy)
Cầm hương xá 3 xá, quì xuống chắp tay đưa lên trán đọc bài Quy-Y:
Nam-mô Ta-Bà Giáo-Chủ Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật (3 lần).
Nam-Mô Thập Phương Phật.
Nam-Mô Thập Phương Pháp.
Nam-Mô Thập Phương Tăng.
Nam-Mô Phật-Tổ, Phật-Thầy, Quan Thượng-Đẳng Đại thần, chư quan cựu thần, chư vị sơn-thần, chư vị Năm Non Bảy Núi, cảm-ứng chứng-minh, nay con nguyện cải-hối, ăn-năn, làm lành lánh dữ, quy-y theo mấy Ngài, tu hiền theo Phật Đạo.
Cắm hương lạy 4 lạy cũng được hoặc cắm hương đứng ngay thẳng chắp tay vào ngực đọc tiếp:
Nam-mô Tây-Phương Cực-Lạc thế giới Đại-từ Đại-bi phổ độ chúng-sanh A-Di-Đà-Phật.
Nam-mô nhứt nguyện cầu: Thiên-Hoàng, Địa-Hoàng, Nhơn-Hoàng, Liên-Hoa hải-hội, Thượng Phật từ-bi, Phật-vương độ chúng, thế-giới bình-an.
Nam-mô nhị nguyện cầu: Cữu-huyền Thất-tổ Tịnh-độ siêu-sanh.
Nam-mô tam nguyện cầu: Phụ-mẫu tại đường tăng long phước thọ, phụ-mẫu quá khứ trực vãng Tây-phương.
Nam-mô tứ nguyện cầu: Bá-tánh vạn dân từ-tâm bác-ái, giải-thoát mê-ly.
Nam-mô ngũ nguyện cầu: Phật-tổ, Phật Thầy từ-bi xá tội đệ-tử tiêu tai tịnh sự, trí-huệ thông-minh, giai đắc đạo quả.
Lạy 4 lạy rồi xá:
1 xá chính giữa niệm: Nam-Mô A-Di-Đà Phật.
1 xá bên trái niệm: Nam-Mô Đại-thế-Chí Bồ-tát.
1 xá bên mặt niệm: Nam-Mô Quan-thế-Âm Bồ-tát.
Hướng chánh bàn Thông Thiên có nguyện đọc bài Quy-Y, còn ba hướng kia chỉ đọc bài Tây-phương ngũ nguyện, mỗi hướng đọc rồi lạy 4 lạy. (Khi cầu nguyện nếu không thể lạy được thì xá 3 xá).
Lạy đứng hay lạy quì tùy theo lúc yếu mạnh.
Cúng xong muốn niệm Phật cũng được. Ngồi bán già thẳng lưng niệm: Nam-Mô A-Di-Đà Phật.
Hay Niệm: Nam-mô Tây-phương Cực-lạc thế giới tam thập lục vạn ức, nhứt thập nhứt vạn, cửu thiên ngũ bá đồng danh đồng hiệu đại-từ đại-bi phổ-độ chúng-sanh A-Di-Đà Phật.
(Niệm Phật nhiều ít, tùy theo sức mình, lúc cầu-nguyện và niệm Phật chỉ niệm trong tâm).
Nam-Mô A-Di-Đà Phật, sáu chữ đi, đứng, nằm, ngồi, rán niệm chớ quên, không đợi gì thời-khắc.
Mỗi khi ăn cơm với mắm muối chi cũng vậy đều nguyện vái Cửu-huyền, Thất-Tổ, ông bà cha mẹ quá vãng về ăn với mình đễ tỏ lòng hiếu-thảo.
Đến ngày đơm-quảy có chi cúng nấy.
Ăn chay ngày 14-15, 29-30, tháng thiếu 29 và mồng 1, có nhang thì đốt, không có thì nguyện không.
Hàng năm đến ngày xuân nhựt thì ngày 29-30 và mồng 1 phải ăn chay, trong mấy ngày ăn chay phải cúng chay, qua đến ngày mồng 2 có chi cúng nấy cũng được, đến ngày mồng 3 ra mắt không nên sát-sanh loài vật mà cúng tế Trời Phật, chỉ dùng bông hoa mà cúng thôi .
Đi làm ruộng đến thời cúng, ngó về hướng Tây nguyện rồi xá 4 hướng.
Còn đi xa nhà thì nguyện tưởng trong tâm cũng được.
Khi đã coi giảng thì phải tự xét mình và sửa sang những thói hư tật xấu, mình lầm lỗi thì rứt bỏ và giữ những điều răn cấm sau đây:
ĐIỀU THỨ NHỨT: Ta chẳng nên uống rượu, cờ bạc, á phiện, chơi bời theo đàng điếm, phải giữ cho tròn luân lý tam cang ngũ thường.
ĐIỀU THỨ NHÌ: Ta chẳng nên lười biếng, phải cần kiệm, sốt sắng, lo làm ăn và lo tu hiền chơn chất, chẳng nên gây gổ lẫn nhau, hãy tha thứ tội lỗi cho nhau trong khi nóng giận.
ĐIỀU THỨ BA: Ta chẳng nên ăn xài chưng dọn cho thái quá và lợi dụng tiền tài mà đành quên nhơn nghĩa và đạo lý, đừng ích kỷ và xu phụng kẻ giàu sang, phụ người nghèo khó.
ĐIỀU THỨ TƯ: Ta chẳng nên kêu Trời, Phật, Thần, Thánh mà sai hay hoặc nguyền rủa, vì Thần Thánh không can phạm đến ta.
ĐIỀU THỨ NĂM: Ta chẳng nên ăn thịt trâu, chó, bò và không nên sát sanh hại vật mà cúng Thần Thánh nào, vì Thần Thánh không bao giờ dùng hối lộ mà tha tội cho ta, vì nếu ta làm tội sẽ hưởng tội, còn những hạng ăn đồ cúng kiếng mà làm hết bịnh là Tà Thần; nếu ta cúng kiếng mãi thì nó ăn quen sẽ nhiễu hại ta.
ĐIỀU THỨ SÁU: Ta không nên đốt giấy tiền vàng bạc, giấy quần áo mà tốn tiền vô lý, vì cõi Diêm Vương không bao giờ ăn hối lộ của ta, cũng không xài được nữa, phải để tiền lãng-phí ấy mà trợ cứu cho những người lỡ đường đói rách, tàn-tật.
ĐIỀU THỨ BẢY: Đứng trước mọi việc chi về sự đời hay đạo đức, ta phải suy xét cho minh lý rồi sẽ phán đoán việc ấy.
ĐIỀU THỨ TÁM: Tóm tắt, ta phải thương yêu lẫn nhau như con một cha, dìu dắt lẫn nhau vào con đường đạo đức, nếu ai giữ đặng trọn lành trọn sáng về nơi cõi Tây Phương an dưỡng mà học Đạo cho hoàn toàn đặng trở lại cứu vớt chúng sanh.
Tất cả thiện nam tín nữ trong tôn giáo nhà Phật lúc rãnh việc nên thường coi kệ giảng mà giữ gìn phong hóa nước nhà, giữ những tục lệ chơn chánh, bỏ tất cả những sự dị đoan mê tín thái quá mà làm cho đạo đức suy đồi.
Đạo pháp thường hay dung với hòa,
Xét người cho tột xét thân ta.
Nếu người rõ phận vui lòng thứ,
Ta thứ được người, người thứ ta.
The five years of our separation by the French policy of severe religious suppression has hindered Me from expounding on Our Principles of Practice with My adherents.
It is not because I tried to avoid you, but because of the coercion of the rogue power that you and I could not stay close to one another. Nonetheless, many of our fellow male and female adherents have an unshakeable commitment to the Faith. But recently, some of them misunderstood and committed acts that are not consistent with the Buddhist teachings of morality, compassion, generosity, and the noble principles of Buddhism. That is the reason why this guidebook is produced.
So, from now on, I expect that, with the few essential teachings expounded herein, our fellow adherents will be able to put their intellect into practice, deliberate, and observe our code of ethics as devised to prevent regrettable actions and preserve the reputation of Buddhism.
Thus, we will not be ungrateful to our Master Sakyamuni for founding Buddhism to guide sentient beings in seeking the path toward deliverance.
Namo Master Sakyamuni Buddha.
By Hoa-Hao
This prologue was written by Master Huynh to introduce the Essentials Guide for the Hoa Hao Burddhist in
This is the 6th Volume of the Oracles which Master wrote in May 1945, Saigon. Since its inception, Buddhism had two categories of practicer:
1 Monastics,
2 Lay Practicer.
MONASTICS: Monks or nuns who have entirely severed ties with families, native town, friends, take shelter at monasteries or hermitages, daily dedicated to sutra learning, caring for meditation sites, to cultivating virtues and acumen, in order to teach to the masses how to repent, take refuge in Buddha – Dharma, no longer to be worldly. Their families and properties appertain to the whole world, their relatives seamless to cosmopolitan humanity. Those are devotees not to transmigrate.
LAY PRACTICER: They include all the broad masses, male and female adherents not eligible to leave home, feeling still heavily indebted to their country, families, compatriots and society, not yet able to live like monks or nuns. However, they readily uphold the Buddhist ideals of compassion, cosmopolitanism, and law of causality. Thus, at home, they worship Buddha, vow to take refuge, keep a few precepts, keenly read sutras, improve their behavior, and support monastics. As such, they can also progress toward deliverance.
That is the category of Practicer of “Humanistic Buddhism”.
In light of the above, it is obvious that all our faith followers can be called practicers of “Humanistic Buddhism.”
Classics said: “In myriad scriptures, filial piety and righteousness prevail”(In myriad sutras, filial piety and righteousness come first).
Today, once having taken refuge in Buddha as home practicer, obey Patriarch and Master to accomplish filiality and righteousness.
Lord Buddha Master of the Western Peace used to urge his disciples thus: To fulfill filial piety and righteousness, we must accomplish our Four Debts Of Gratitude, which require lots of sacrifice and exertion:
(or ‘Debt toward Donors’ in case of monastics).
We were born acquiring a body to develop since infancy to adulthood and maturity. Within such a years long period, our parents had incurred so much hardship. But they were born thanks to our ancestors. Thus, as we acknowledge them, so too ought we to toward our ancestors.
To repay our parents, while alive, if they teach us any good and right thing, we must attend to their advice, never take it lightly, lest we should disaffect them. If they mistakenly do anything immoral, we must do our best to stop or dissuade them. Not only that, we need to repay them by taking care of their wellbeing while fostering harmony among siblings and creating familial happiness for their satisfaction. Pray for our parents to enjoy greater merits and longevity. If they pass away, pray for their souls to enter Buddhaland and exit the drowning cycle of rebirth.
To repay our ancestors, do nothing to defile our pedigree. If our ancestors have done anything wrong, afflicting their descendants with dire consequences, we ought to practice harder and sacrifice our lives for righteousness, redeeming our lineage.
For birth we owe it to our parents and ancestors. For living, we owe it to our country. To benefit from every inch of the land and its produce, to facilitate our livelihood and to preserve our posterity, we feel obligated to defend our country should it be trampled upon by invaders. Support it while in dire straits and make it strong and prosperous. Liberate our country should foreigners dominate it. Only when its borders are well protected, do we enjoy peace. Only when it is rich and strong, do we have greater comfort.
Exert ourselves to sacrifice for the country according to our capabilities. If we are not yet ready to assume significant tasks, nor have we yet had the opportunity to help our country, must we absolutely shun any misstep that may lead to harm it and never lend a hand for the enemy to wreak it. That’s the way we repay it.
What are they? They are Buddha, Dharma, and Sangha.
Humans owe their birthing and raising to our ancestors and parents, and their subsistence to their country. That is on the material plane.
Mentally, we need Buddha, Dharma and Sangha to help develop our intellect. Buddha is a quintessence of morality, beauty, compassion, resolute to save all sentient beings from their sea of sufferings. Thus, He bequeaths His Dharma, that is, His teachings for monastics to spread over the world: the latter are but His great disciples. Therefore, Buddha always guides and saves the sentient beings from their delusion and sea of suffering. Therefore, we must revere Buddha and fully believe in His mission by following His teachings through the sangha’s guidance. Our forebears have been perceptive of His miracles and great-heartedness toward the sentient beings. To respect and worship Him, to practice rightfully within the framework of His teachings, they have further developed the Tao, and constructed an unsurpassed, unparalleled castle of morality, which forever shines on with posterity.
Thus, we ought to align ourselves with our forebears’ dispositions to enhance our acumen for the sake of deliverance, to guide the disadvantaged, especially to continue spreading the morals so that the spirit of compassion and generosity may permeate the broad masses worldwide. As such, we’ll not desert the legacy that Buddha and our forebears have bequeathed us and the respect from our posterity.
As soon as humans open their eyes to see the world, we already find ourselves reliant on the support of others and, the older we are, the more we depend on them.
We owe our survival to their grains of rice, our warmth to their clothing, our protection against harsh weathers to their accommodation. Happiness: we share it with them. Disaster: they incur it with us.
They and we have the same skin colour, speak the same language. When our compatriots gather, we become one, that is the Nation. Who are they? They are those whom we often call compatriots.
The former and we belong to the same race, to the same lineage, share the glorious pages of history, and support one another in danger. Our common duty is to procreate the best possible future for the country. They and we are so deeply interdependent that we cannot separate from one another nor must we be divided, and there will be no case in which we can exist without our compatriots and vice versa. Thus we must help them so that we can repay the debt of gratitude we have owed them, even for a very small part.
Not only that, apart from our compatriots, we have a world in which people are toiling to provide for us what we need. They are humankind, those who coinhabit the planet Earth with us. What will our people be like without humankind? Can we have sufficient goods to meet our needs? Can we have adequate self-sufficiency?
In brief, can we alone survive all climatic conditions, moments of disease, danger, and sustain these livelihoods? Certainly not. Therefore, our people must seek help from humankind, that is, we must rely on other races of people, thus we have to acknowledge them. Think about them in the same way as we do about ourselves and our race.
Moreover, Buddha’s compassion and magnanimity which we have recognized, are very deep and far-reaching. These sentiments are ubiquitous, regardless of skin colors, races, socio-economic backgrounds. They surpass all social strata and classes, and empathically place all into one: humankind and sentient beings.
In this sense, we have no legitimate ground to harm other peoples in the interest of ours or our people. Instead, uphold an ideal of harmony and tolerance toward them while seeing ourselves bound to assist them where necessary.
As far as monastics are concerned, on top of the aforesaid benefits they have received, they are directly indebted to their donors, that is the male and female adherents who kindly provide them with what they need. The monastics rely on food, fabric, to medicine for their subsistence. In brief, they have entirely to depend on the sustenance by the kind-hearted.
Toward the society, this debt is very heavy; thus, they ought to guide the living in search for the Truth to return their care and attention.
Born into the world, humans must be pervaded by natural law, whether they want it or not. This law can be summed up into one word, that is Tao, the way of humans named “Tao of Humans”. It looks like walking on a path on which, if correctly done, they survive, otherwise they perish.
To accomplish the Human Tao (Humanism), it is necessary to keep Four Debts of Gratitude. First and foremost, shun Three Karmas and renounce Ten Evils: simply to speak, to be rich, don’t be a debtor.
The following are the three types of Karma:
Those Three categories of Karmic Impediments cause humans to commit the following ten evils:
Bodily Karma consists of three Evils:
1) Killing
2) Plunder
3) Sexual misconduct
Oral Karma consists of four evils:
1) Double tongued
2) Scolding
3) Harsh, cruel speech
4) Telling a lie
Mental Karma consists of three evils:
1) Greed
2) Anger
3) Delusion
Humans are born all good. However, because they have to live close to rogue circles when they grow up, their character is tarnished with ignobleness and lowliness, thus becoming wicked and ruthless. Humans kill one another for money, beauty, fame, interest, power, hatred, bellicosity, etc. That means, they kill one another for the interest of an individual, a group of individuals, a social stratum, of a state; they want to destroy the whole of Humankind, and no one has the right to coexist with them.
In royal palaces, the king sees his subjects as garbage, the latter seeing the former as foes, resulting in myriad internecine woes. In a broader context, children kill parents, servants harm bosses, disciples kill masters, husbands kill wives, siblings maul one another. These dramas very often happen to humankind for no other reason than the above-mentioned. It is human vis-à-vis human.Toward animals, human atrocity is several times worse: they kill animals for food, superstition, or entertainment.
Even though we can’t absolutely renounce killing animals (chicken, ducks, pigs, etc.) to feed our bodies, we can’t, under the pretext ‘Animals are to nourish humans‘, kill them more than necessary. People only need them enough to meet the requirements of their dishes, without wastfully sacrificing them. In particular, we should never kill animals part of their rituals. People misthought that, when someone committed sins with Saints, Deities, Heaven, and Earth, they could pray for a pardon by slaughtering animals for sacrifice. This belief is a gross error and unfounded because such supernaturals as Saints and Deities will, never for their private interest, derail the course of justice.
Facing an accidental injury or illness, humans tend neither to take medication nor to pray for the Divine to help them get over; instead, they kill animals for sacrifice using media to call Holy Spirits. They do not try to find out what has caused their disaster, illness. They don’t realize that their disasters originate in their previous misdeeds, they neither repent nor build up merits. While killing animals for sacrifice, they commit more sins while they have not yet paid off the old ones.
Not only that, they also kill animals for the purpose of self-pleasuring; some shoot birds flying in the sky, others hack fish swimming in waters. They make animals their hunting targets each time they are in high spirits, forgetting that animals also have souls and know how to live like humans.
Therefore, tolerate them and take care of them, especially the domestic ones such as cattle, horses, dogs, cats, etc.; do not kill them because they assist us with running our daily activities.
In short, no unfounded killing is forgivable and, on vegetarian days, one ought entirely to abstain from it.
“Indigence leads to theft and robbery” often is an excuse by the unscrupulous horde.
They meander around streets by day and, at night they seek to break into houses. They don’t work but want free food and clothing.
These scum of society, the outlaws, go in hiding and disrupt the public order and security, skilful at murdering and stealing from the sincere people, without thinking that the latter have shed lots of sweat and tears to earn their living.
They are like the worms that spoil the whole casserole of soup. They are the culprits of calamity to thrifty, hard-working families, the catalyst for poverty and misfortune of humans. In deprivation, instead of working hard like anyone to subsist, they commit one sin after another, one offense after another, inflicting so many misfortunes upon the general public.
Though the heavenly net is thin, it is hard to sneak through. These outlaws can escape from the penal law of humans. But they can’t avoid heavenly repercussions on their dark acts if they do not repent, renounce unrighteous actsimprove their character.
“Filial piety tops in all good deeds; sexual misconduct is the worst of immoral acts.” Sutras often said. Look up history books, and one can see this sin all over, from palaces to commoners, from families to strangers; many tragedies germinate therefrom! The tales of An Lushan with Yang Gui Fei, and King Qi Zhuang Gong with Cui Zhu’s wife, were lingering to the present.
The money-ready rich rape the poor; position-abusing mandarins suppress commoners. Since antiquity, male and female adulterers are popular. To preserve national morality and safeguard family repute, don’t let one prone to lust, and follow the traditional models of filial piety, loyalty, and chastity .
DOUBLE TONGUE, SCOLDING,
OBSCENITIES, TELLING LIES
The tongue stands foremost among the evils. The double tongue induces misunderstandings, quarrels and conflicts, and animosity. The right side of people is underrated, and their wrong one is exaggerated; the tongue has not only created disunity, strife, infighting but also destroy solidarity and friendship between people.
It is the origin of innumerable disharmonies and discordances.
To remove this calamity, one must keep their speech truthful, righteous; this done, neighborhoods have fewer squabblings, the larger community has no friction, and one will no longer incur resentment nor defilement from another.
5. SCOLDING
Talking about this evil, one refers to the scolding of servants by the bossy employer and that of commoners by the haughty mandarin, that of the poor by the condescending rich. The cunning use their cleverness to tell lies, the learned use their knowledge to berate the illiterate. Don’t bully people like that because one’s subordinates also have brains and abilities to think, but they accept submissiveness just because they are less fortunate. If they make a mistake, try to educate them, gently and kindly instruct them. Do not be sarcastic lest you should sin.
Swearwords and profanities make up this kind of sin; children abuse their parents regardless of morality and filiality; the strong threaten, hit or kill the weaker, bully their neighbors. They tend to curse winds and clouds, their families, disrespect deities. All day, they summon the Holy Supreme, invite the Waterworld, thus heaping their sins up .
Renounce these obscenities to make life calmer and serener. Be polite toward parents, treat family members, relatives, friends, and neighbors , senior or junior, with decency. Toward children and grandchildren at home, don’t speak cruel things and, instead, be nice and kind to educate them.
Fabricating stories, embroidering mysteries, make up fallacies, this evil of lying is the cause of myriad injustices for humans. Liking someone, one seeks to defend or hide their faults and embroider their positive side; disliking someone, one invents bad stories to denigrate them and conceals their positive side.
Bumptiousness and grandiloquence bring a despise upon the mythomaniac. To stop degrading societal relations, be veracious, and renounce misleading and fraudulent statements. Do not cheat others, do away with lies and ought to use truthful words.
Greed has made humans suffer from so many disasters: wars, plunders, murders, etc. Greediness for prestige, profits, good look, property, power, influence, etc. has plunged humans into so many fierce battles, onslaughts, resulting in heinous calamities and unimaginable massacres. The dramatic scenes of hostility, pillages, murders, rortings, racketeering, scrambles for spheres of influence all have wreaked havoc on humankind.
This greediness has also made humans suffer from rancor and grieve day and night, resort to suicide, only because their desires could not be realized; people kill themselves because their struggles for loves, self-interest, and the like, have not materialized. Infightings, internecine massacres, fratricides, brutalities, cruelties, all have originated from this greed.
If only humans have put an end to their greed will their sufferings significantly diminish.
Moreover, in reality, no one could avoid experiencing ups and downs; if we have, we spend, if we don’t, we refrain. Why plot to usurp others’ things? Things are everyone’s . As long as we live, it exists; when we die, it is lost. Have a look at the stories of Thach Sung, and Vuong Khai which must have taught us a lot of precious lessons?
Thus, let’s think of people as though we thought of ourselves. Dispel selfishness and greed. Cultivate merits, donate to the poor, and diligently repent so that you may enjoy bliss on the Pureland and escape from this impermanent world.
Anger often incites people to commit injustices and bloody retribution. The winner gloat, the loser are shameful, so this enmity keeps expanding. “Anger obfuscates people’s acumen“, anger often drives people crazy, losing self-control, becoming ferocious, barbaric, no longer thinking of fairness and justice.
With this removed, we feel at ease and elation. Be tolerant toward those who have made mistakes. Forbear, and do neither bicker nor argue to defend our opinion as this may lead to further frictions.
this sin is created by a lack of judgment or poor thinking. Therefore, one seldom discerns right from wrong, clings to misconceptions, fails to recognize the Truth, being ignorant for life. They focus on tiny, lowly, easily degradable things. They defend their arrogance without probing the way to deliverance.
Eradicate superstitions, abide by morality, avoid delusion and wake up from illusions, destroy primal ignorance that blurs one’s mind, step by step go on the moral path, toward immortality.
The Three Karmas once gone, follow the Noble Eightfold Path. When the Ten Evils end, do the Ten Good Deeds automatically emerge: as such we have made a more step morally. However, this progress does not mean we have reached our objective. So, we need to proceed with the Noble Eightfold Path, because it is the key sutra for anyone who wants to exit the delusional world for deliverance.
The Noble Eightfold Path consists of:
The Right View is seeing or observing things as they are. Generally speaking, humans tend to be so carried away by their egotism and self-obfuscation that their views go more or less astray. Sometimes, it is because of short perspicacity, retribution, self-interest, rancour, that their judgment is so biased that it may harm others with injustice. In this sense, the Right View teaches us thoroughly to investigate all aspects of any matter, carefully examine it, in order to avoid any misjudgment, whether it is our own or others’ affairs. Thus, utmost observation or probe, prevent us from skewing our views, aberration, so that our egoism may not obfuscate our acumen; it helps us obtain a straightforward, transparent understanding and a truthful, fair judgment.
Not only that, but it also helps us understand worldly entanglements, know religious miracles, stop chasing after witchcraft, renounce self-immersions, return to morality, and free ourselves from worldly depravity. It enables us to avoid all fallacies lest we should get lost while practicing the Tao.
Born to the world, humans are susceptible to material temptations, e.g. self-interest, power, conjugal bonds, etc. This thought has driven our minds ever whirling within these vortexes, which one will never escape. It is on the evil part.
On the right one, we learn that our mind must be calm, our character serene, our thinking noble, and our intellect to seek out the Truth. That Truth is our Tao toward humankind, the Holy Supreme, and ourselves. Therefore, be committed to the search for a way to liberate the living from their abysmal immersion. Believe in the Holy Supreme and pray for the latter to bless Humankind. Seek out the path of deliverance for ourselves by leading a frugal, mindful, entirely devoted life.
For Buddhist monastics, apart from their routines of meditation and concentration, scriptural recitations and self-paced walks, readingsutras or writing books, voluntary works in temples, nothing could lead them to create bad Karma.
By contrast, lay practicers still need to make a living for subsistence; some are busy traders, others do this or that, all are because of the body. Yet, although their livelihood pervades their existences, this makes them entirely differ from thieves and tricksters: they do nothing fraudulent and inhumane. In earning a living, they vow to quit harmful businesses e.g. hosting prostitutes, drug trafficking, alcohol trading, speculation, lending with exorbitant rates, etc.
Though these traders do not press their customers to buy their good or services, the fact that they do those occupations render the human being spoiled and depraved… The traders are accomplices, and the offenders are drug addicts and alcoholics.
In this sense, the Right Livelihood prohibits these occupations. The lay practicer ought not to kill animals for no reason, nor to beat or stab anyone, so that they may commit many sins.
Atheism often holds that human body is the human being themselves. If the body remains, the person remains; if the body dies, they die. There are neither Saint, Deity, God, Buddha nor retributive cycle of rebirth; neither sin nor merit, neither vital spirit nor soul. Life is the human body; living is fighting; the stronger win and the weaker lose. Thus, there are so many frauds, mythomania, cruetyl and injustice that all are brought out for use.
Thus, this Right Effort topic urges us to keep our faith vigorous. No matter how overwhelming our desires are, how compelling the forces of temptation are to divert our faith from the Holy Supreme toward other things, we shall not let them carry us away. And we must always remember the Blessed One’s world-salvaging mission. We must remember that the living beings are drowning in the worldly sea, that, as long as any sentient being still suffer, we must also suffer with them, and that we are obligated to enlighten them and help them eliminate bitter cyclic injustices.
For this, we must first seek ways to enlighten ourselves and advance toward Nirvana; we resolve to achieve our self-enlightenment tto guide the masses from consequential mundanity. Eradicate any depression, wickedness, Six Sense Organs, Six Sense Objects. Try hard to sharpen the mind, perfect virtues: placidity, happiness, dignity, resolutely advance toward Nirvana, to help the sentient being be free from their retributive cycle of rebirth.
People often take their bodies for roots which they adore and care. That arises from Six Sense Organs: Eyes, Ears, Nose, Tongue, Body, and Thought. Eyes love good look, ears melodic sound, nose perfume, tongue delicious food, body for comfort, and thought high positions.
People seek every way to nurture their bodies, thus rendering their intellects darker by the day, to such an extent that they are no longer wary of their demise.
Therefore, avoid what would obscure our mind: get rid of all kinds of luxury, so we can gain self-mastery to seek immortality. Take meditation for substance, acumen for imperative, the soul enters Lotus, and transcend to Nirvana.
The Six Sense Organs impregnate humans with Six Sense Objects. As they want to nurture their bodies, so do humans develop their cravings that are the origins of sins, including the karma of the tongue:
Ensure that one’s language is genuine, truthful, and exact. Eliminate lies, misleading, fraudulent, rude, and harsh speeches. In any discussion, speak with transparency and integrity. Toward your superiors or subordinates, use simple, decent language. The advices you give to others is to do the right thing, all are helpful to the sentient being, and morally fit.
Whether something remains or not preoccupies you; whether you gain or lose preoccupies you; whether you love or hate someone preoccupies you. Seven Sentiments and Six Desires compel humans to expend so much stamina to serve them. Self-interest, affection, power, affluence, etc., are the daily subjects of memorization. Thus, humans get forever inextricably caught in the Six Path cycle of rebirth.
To escape from the woeful cycle of rebirth, contemplate Buddha’s teachings, abandon frivolities, memorize Buddha’s good deeds toward sentient beings, and internalize His tenets. Remember, the Four Elements (Earth, Water, Fire, and Wind) make up our bodies which will sooner or later decompose. Only in this way can we dispel our emotions and desires, and avoid the misfortunes derived therefrom.
One often intends to be more sumptuous, more opulent, more comfortable, etc., that is, their intentions are entirely lowly and ignoble. That is, they do not understand that their world is impermanent, changeable from day to day, the bodies displaceable, that their wealth is like floating clouds and foams. Birth, disease, aging, and death, follow the life of one after another and so forth, that is, upon all humans without exception. However, they still keep scrambling for vainglory, transient affluence, chasing after superficialities, something piecemeal and trivial.
They do not recognize that, apart from the transient world , there is something permanent, immutable, eternal. If one uses meditation to unravel primeval delusion, they can see that, at this place, humans will no longer suffer from depression and retributive reincarnation.
When we use the Right Concentration to end all kinds of depression, and annihilate temptations that drag us into wrong paths, our mind will no longer be agitated, our intellect shine as a full moon, translucent, rid of contamination and temporal attraction, progressing toward deliverance.
Pagodas have hitherto created so many imageries and statues. Though Buddha-revering people have made these to worship Him, but some of them profiteer from it. Now, we should not have more of them. Doing so, we do not mean to demote pagodas’ ways of worship. That worshipping way depends on the local conditions that we may uphold. But, lay practicers should not use more of them. Simplyworship for the Faith to return to the mind rather than focusing on its illustriousness. We used to worship the Red Canvas as a relic of Master Buddha of the Western Peace. But. recently, many of its worshipers called themselves sharing our Faith stream, but they violate Buddhist tenets, so our faithful change back to the chocolate brown.
Moreover, monastics have so far used the chocolate brown to represent their transcendence. This color combines all other colors, standing for an harmony in the international community, regardless of race and socio-economic backgrounds. Therefore, we apply it at the place of worship to epitomize the Supremity of Buddhism.
If it is narrow inside the house, the Open-Air altar with an urn only will suffice because practice rests on self-cultivation rather than ceremonialism. If one has Buddha bones (Phật cốt) at home, it is acceptable to keep them. However, paper statue (s) should not be retained and must be burnt. If one lodges with others who do not practice nor have the same religion, or if the house is too narrow to set up an altar, they may tacitly pray in mind at the time of prayer.
As for Buddha offering, use only freshwater, flowers, and incenses. Freshwater stands for pristineness, flowers for purity, and incenses for deodorant. Besides, nothing else is needed for offering. On the Ancestral altar, you may offer whatever is available.
Except for Buddha, ancestors, parents, and national heroes, we should not worship any other spirit whose origin is not known.
Kowtow only before Lord Buddha, ancestors, alive grandparents and parents, and national heroes. For the others, renounce the custom of kowtow to the living. Even toward our Master, we just bow, salute.
All the acts, religious or not, must be probed before going ahead, and never do things foolishly and unconsciously. First, do not too much rely on the strong, second, do not rely on the holy spirits for salvage; and third, do not rely on your Master’s protection. Always remember the causality law taught by Buddha. As a cause is perfect, so too will its effect for this reason. Those who acted foolishly or thoughtlessly so much that they failed and incurred difficulty and misery, then theyblame the strong why not rescue them, their Master why not help them, the Holy Supreme why not bless them: that aberration is pitiable.
Each of you should use intelligence to carefully examine your Master’s words or principles. Do not take them for granted, whereas you have not yet received a thorough explanation. As such, you can make progress morally.
I hope that all our adherents would seriously take and implement the above outline to eradicate the excessive superstitions of a minority among us for Buddhist harmoniousness to quickly propagate.
When grandparents or parents pass away, let’s maintain the old traditions of mourning formality , except for amends as follow:
Now that we have taken refuge in Buddha, it is crucial that we faithfully pray and mobilize our fellow adherents’ efforts to pray for the dead’s soul to transcend to the permanent land. Do not hire ritual performants, nor burn votive banknotes, paper jewels, joss craftwork, as they are prodigal yet useless, because one understands that human body is degradable and, right after death, it must be discreetly buried. Don’t let it stink and harm the living, that is enough.
For filialness, it depends on the dead’s lifetime merits and cultivation and praying endeavor, not on hiring others to pray on one’s behalf to achieve filial piety and righteousness. Only set up a table in the mid -house or outdoors, pray, then quietly proceed with burial.
Worshipping grandparents or parents, you may offer whatever on their anniversaries according to customs. It is flexible to treat your friends or neighbors, . Do what is deemed simple and least wasteful.
Each person stands before the Buddha altar and prays: “Namo Master Shakyamuni Buddha” (3 Times) and “Namo Amitabha” (3 Times).
Then, “Patriarch Buddha and Master Buddha, we faithfully pray for (‘title’ the dead’s name). May You kindly bless the soul to be free from the cycle of rebirth, and to transcend to the Western Paradise!”.
At home or in a cortege, if there is a queuing formation for the crowd, clasp two palms together and pray:
“May the Western Paradise, Thirty Six Trillion, Eleven Thousand, Ninety-Five Hundred Worlds with unanimity and great compassion, guide the soul of the dead, Amitabha” .
If the dead is a monastic, the last phrase should be “Guide the Reverend, Amitabha”.
ATTENTION In mourning, family members must not to cry, sob or wail lest this may hinder the soul’s salvation.
The parental obligation in matching a partner with one’s children is to probe the character of the pair. Never overly press your children because this may cause them to suffer later in life. However, don’t either let them have too much freedom as their lack of experience should spoil their lives. Eliminate the custom of monetary exaction and dowry demand.
The in-laws of both the families must not make things difficult for each other, nor contrive dear parties causing them to impoverish.
It is a must-not. However, when holding a party with outsiders, not alling on fasting days, it is flexible for the host to drink a little, very light, alcoholic beverage to show that you always appreciate your friendship. However, being drunk would lead to sinfulness.
One must renounce all of these. Those to take refuge must quit these drugs before admission to the Congregation. Exceptionally, if someone is sick and advised by a medic, they may mix it compatible with other medical ingredients.
Strictly renounce it; the gamblers interested to join the Faith in must vow not to gamble before admission. In this, no such entertainment is exemptible.
All fellow adherents should respect the rightfully practicing monastic. If they taught the right thing, you ought to listen. But, toward those who you know do not rightfully practice e.g. ritual performant, try to find ways to persuade them back to the right path of Buddhism. If they continue the wrong path, you must absolutely ban them and explain for the mass and Buddhist adherents to keep away from them.
On Buddha commemorative days, the Lunar Fifteenth or the Thirtieth ones, you may go to the pagoda to fete Buddha, offer flowers, and this is unprohibited. If any pagoda is poor or needs repair, it is good that you can help them ( do not procure many statues).
At any pagoda, you must also respect their ways of worship and must not ridicule them.
For the other religious, don’t touch on their methods of practicing. Primarily, please don’t count on the numerical superiority of your Faith to bully or denigrate them. If they are aggressive to you, you are not allowed to take revenge for this reason, but always try to make peace with them. Though they do wrong to you, you must always keep doing good to them even if they are wrong, forget and forgive.
Toward the populace, always harmonize with them and make both the parties cordial with each other. Be compassionate and, if they need it, give them your best possible support.
All of my fellows must know that I have not coerced anyone into hair keeping because it belongs to custom, not to religion. The reason why I keep my hair is I want to preserve the souvenir of our Ancestors’ old tradition and prove to people that I have not incurred the Western civilization’s scum influence.
Seeing this, many adherents who adorer me hastily copy me. Thus, many confuse hair keeping with self-cultivating practice. In fact, practice is practice, hair keeping is hair keeping, and practice is not hair keeping and vice versa. If hair keeping stands alone without cultivation, it does not make a practicer. From now on, under no more French yoke and, according to the country’s evolution, I allow you to freely reform to integrate with the larger populace and members of other religions.
Education does not hinder moral practice. Instead, they help deepen an understanding of religions and their profound contents. They help people avoid aberrations and renounce superstitions. They help discard mysticisms, stop debating your fanciful thinking, e.g. prophecy.
Thus, take a self-directed learning, such as in national language, and let your children and grandchildren attend school to broaden their knowledge base. Moreover, scientific knowledge does not impede practice and, instead, allows for deeper research into Buddhism.
Our fellow adherents, male or female, must keep themselves fit and healthy. As such, play the sports that suit your health conditions and as you think appropriate because a sane mind only exists in a sane body. Only this way can you actively engage in your moral practice.
The practicer must have a moderate diet. Avoid delicious dishes cooked with unhealthy ingredients, which, if eaten, cause diseases. You must take good care of your body and living space, maintain hygiene. Get rid of unhygienic habits, because if the body is dirty, the mind will hardly develop. It is also because the holy spririts only stay with the pure ones; and anyone who wish to receive their blessing must keep both their mind and body pure.
Livelihood rests on what the Eightfold Noble Path has taught: Renounce immorality, such as cheating, smuggling, speculation, alcohol sale, drug trafficking, etc. Adopt rightful careers without deception and racketeering.
Those interested in conversion must be introduced by two virtuous old fellow adherents to the local Committee of Management and inform the leader who then read the code of practice for the convert. Then he asks if the latter consents to take refuge as prescribed in the religion’s prayer and precepts . If they do, they are advised to go home and advise their grandparents or parents or make a vow before the Ancestral altar, saying: “On …..day, ……month, I agree to convert.” Afterwards the leader (Committee chairperson) hands out this booklet.. Where there is no Committee, two existing fellow adherents must induct the novice, then take them to the nearest Committee. It is not mandatory to swear, because their commitment exclusively depends on their vow: if they want to no more commit to the Faith, they must notify their previous introducers to remove their names. No adherent may declare oneself a religious member of the Faith without abiding by its rules.
Those who infringe on the precepts shall be held accountable for their acts and considered as heathen even though they have not applied for cancellation of their membership or their membership is still valid.
Remember that Buddha will guide and support those who conduct a genuine, wholesome, livelihood according to His preachings. Buddha will never support those fraudulent in their businesses, who do evil and foolish things contrary to His teachings.
Clasp incense, salute thrice, kneel, hold hands against forehead and read:
I respectfully offer Incense to my Ancestors,
May you witness my faith endeavor.
Now I wake up to take refuge in Buddha,
I resolve to be a merit cultivator.
After planting incense, stand straight, clasp hands against chest, read on:
I bow to acknowledge my Ancestors,
For my birthing and raising labor.
From now on, devoted to Buddhism,
I pratice for you to transcend to the Holy realm.
I vow to be your name shiner,
Free from all sufferings for Lotus seater.
May Your Grace from above,
Help me steadily practice the Tao.
(Four Kowtows)
Hold the lit incense stick, kneel, salute three times, and pray:
Namo The Saba World Master Shakyamuni Buddha (Three Times)
Namo Patriarch and Master Buddha, Your Eminence Generalissimo, Ancient Mandarins, Mountain Gods, and Residents of Năm Non and Bảy Núi, may You witness: Now I vow to repent, do good and renounce the bad, take refuge in the Lords and practice Buddhism.
After planting the Incense, kowtow four times or stand upright with both hands held against the bosom and read on (Western Paradise Five Prayers):
May the Western Paradise, the World of Compassion and Magnanimity, may you kindly and lovingly bless all the sentient beings, Amitabha.
Namo the 1st Prayer: May Heavenly King, Earthly King, Human King, Great Lotus Assembly, Master Buddha, Buddha King, compassionately bestow peace for the masses over the world.
Namo the 2nd Prayer: May all our Ancestors ascend to the Pure Land.
Namo the 3rd Prayer: May our alive parents enjoy greater merits and longevity; may the late ones ascend to the Western Paradise.
Namo the 4th Prayer: May all the masses be tolerant, generous, and no longer delusional.
Namo the 5th Prayer: May Lords Patriarch Buddha and Master Buddha mercifully bless Us free from karmic impediment, more insightful and full enlightened.
Kowtow four times, stand up and salute:
One in the middle: Namo Amitabha, one on the left: Namo Mahàsthàma Bodhisattva, and one on the right: Namo Avalokitesvara Bodhisattva.
After praying before the Three Jewels Altar, step outdoors and pray before the Open-Air Altar in the Four Directions, taking it for the main one.
Toward the Altar, pray “Taking Refuge” and “Five Prayers”, and” only recite “Five Prayers” in the three remaining directions.
While praying, if you can’t kneel, you may salute three times. Standing or sitting prostration depends on your health condition.
After the ritual, it is optional to recite Amitabha.
Half leg crossing, the back straight up, pray: Namo Amitabha or “May the Western Paradise, the Thirty-Six Trillion, One Hundred and Nineteen Thousand and Five Hundred Worlds, unanimously, with great compassion and magnanimity, bless the sentient beings, Amitabha.”
(The prayer or reciting Amitabha is only in mind, and the number of times depends on your health conditions)
Namo Amitabha, six words, is recited in whatever position, and never forget it.
Each time you take your meal, frugal or not, pray for the Ancestors, the late grandparents and parents, to return and share it with you to show your filial piety.
On commemorative days, offer whatever you have. Fast on 14th, 15th, 29th or 30th or the 29th and 1st if it is a shorter month, without 30th. If you have Incense, you may light it; otherwise, you pray without it.
Every year, over New Year’s Eve, on three Spring days, 29th, 30th, and 1st, you ought to be a vegetarian and, should need be, offer vegetarian food. On the 2nd, you may make an offering on the Ancestral altar with whatever you have, and on the 3rd day, do not kill animals for sacrifice; flower offerings suffice.
When you do farmwork, at praying times, look toward the West and salute in four directions. If you are far away from home, you may pray in your mind.
After reading the sutras, examine yourself and correct your bad habits. If you have any wrongdoing, renounce it and keep the following:
FIRST: You should not consume alcohol, gamble, take illicit drugs, follow lecherousness, but do fully adhere to Three Bonds and Five Constants.
SECOND: You should not be lazy but be thrifty, diligent, hard working and genuinely practice. Don’t quarrel with one another, but tolerate one another while in anger.
THIRD: You should not spend too much on a make over nor should you regard your wealth above righteousness. Don’t be selfish and sycophantic, and don’t neglect those in need.
FOURTH: You should not call upon the Holy Spirits to summon or curse because the latter have nothing to do with you.
FIFTH: You should not eat the meat of cattle and dog nor slaughter animals for any sacrifice, for no Holy Spirit ever takes a bribe to pardon you. If you sin, you shall be punished. Any spirit that takes a sacrifice for healing us, is Evil; if you keep sacrificing, it will get used to it and haunt or/and harm you.
SIXTH: You should not burn votive banknotes, joss jewels, paper clothing, as it is unreasonable to waste monies, for the Underworld never takes bribes from anyone nor can it use it. Save these wasteful funds to help the homeless , needy, and people with a disability.
SEVENTH: As far as social or ethical issues are concerned, you ought to examine them thoroughly, think carefully before judging the matter.
EIGHTH: In brief, you ought to adore one another like the same father’s children, to guide one another into morality. Those who have flawlessly performed shall transcend to the Western Paradise as a safe haven to complete their Dharma learning, so they can return to salvage the rest of the sentient beings.
All male and female Buddhists should often read sutras in their spare time, safeguard our country’s culture and mores, and discard all excessive superstitions that may lead to moral degeneration.
The Dharma always uphold harmony,
Subject others and yourself to the same scrutiny.
Gladly forgive if they know they’ve been off limits ,
If you can, will they show you the same empathy.